(©uyenminh.wordpress.com)
Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về núi Ngự
Ai về là về sông Hương
Nước sông Hương còn vương chưa cạn
Chim núi Ngự tìm bạn bay về
Người tình quê ơi người tình quê thương nhớ xin trở về…
(Ai ra xứ Huế – Duy Khánh)
I.
Đây lại nói chuyện 3 chàng lính ngự lâm khoa BC, trường Quốc gia đại học sỹ sau cái đợt Tuấn Porthos và Tú Aramis khuyên can đại huynh mình là Tí Athos đắm chìm trong bể ái tình không được, cả hai đành tạm giã biệt mà mỗi người đi một hướng
Chẳng ngờ, 3 chàng không hẹn mà cùng dừng bước tại Vỹ Dạ xưa quán ở đất Cố đô vào một ngày đầu thu. Sau những sững sờ với lại sung sướng cảm động tới nhòe lệ, Tuấn mới ôm lấy anh trai mình mà tham vấn:
- Ôi thấm thoắt mà hạ khứ thu lai. Người ta thường nói, một năm ở bên Thúy Kiều nhanh như một cái chớp mắt, còn một giây ở bên Thị Nở dài hơn cả một thế kỷ, vậy mà anh em ta đã không gặp nhau sáu mươi mốt ngày bảy giờ tám phút bốn chín giây, thực khác chi Từ Thức gặp tiên, sáu mươi ngày mà dài như sáu chục năm ròng. Đại huynh nhìn vóc dáng thì vẫn còn mạnh giỏi cường tráng lắm, nhưng vì sao mà khóe mắt cứ đỏ hoe thế kia? Phải chăng anh vẫn chưa quên hẳn được Quỳnh Vy cô nương?
- Từ khi giã biệt anh em chốn Thăng Long thành, ta đã không còn tơ tưởng gì tới yếm thắm má hồng nào nữa mà chỉ chuyên tâm vào học hành sách vở. Gần đây, ta mới đảo qua Nguyễn Xí thư đường đại lộ mà kiếm được cuốn thiên thư mang tên “Sự thật trong ba phút” của cố đại văn hào Phùng Quán. Đọc xong cuốn này mà ta nảy sinh biết bao nỗi niềm, thế là từ bấy tới giờ nước mắt cứ tuôn như mưa, không biết làm thế nào để kiềm chế lại được. Từ chốn Thăng Long thành hoài cổ, ta phải tìm tới chốn này – là quê hương của Phùng đại nhân để chiêm nghiệm.
- Hiền huynh nói vậy thật hợp với tâm sự của em lắm lắm. Ngày còn ở Long Trung cốc, Hải Dương thành em đã say mê cuốn “Dữ dội tuổi thơ” của Phùng đại nhân. Nay lại được đọc thêm Vượt Côn Đảo, Trăng Hoàng Cung, và đặc biệt là Ba phút sự thật… thì lại càng tâm đắc với cố nhân thêm không biết bao nhiêu nỗi niềm mà kể. Cũng vì vậy mà lần này là lần thứ ba em đến Huế để thêm một lần được đắm chìm trong sông Hương núi Ngự, với cầu Trường Tiền, Phu Văn Lâu, với Vỹ Dạ… những mong tìm thấy chút gì của người xưa đọng lại.
II.
Lời tựa cho cuốn “Ba phút sự thật” được Phùng Quán viết tại TP HCM ngày 13-2-1993 như sau.
Trong cuộc đời làm văn, tôi mắc phải một khuyết điểm trầm trọng: Diễn đạt dài dòng. Người đầu tiên dạy cho tôi sự hàm súc, cô đọng trong nghệ thuật là Angtôniô Ếchxêvania, biệt danh là Măngđana (Quả táo). Anh mới 22 tuổi, sinh viên khoa ngữ văn. Ngày đó đất nước Cuba còn sống dưới chế độ độc tài Batitsta. Thói dối trá, đạo đức giả, lừa bịp được bọn Batítsta chọn làm quốc sách cai trị dân. Quốc sách này được lũ khuyển ưng văn hóa, văn nghệ tô vẽ, dệt gấm thêu hoa, nên ngày càng trở nên độc hại, ru ngủ không ít người Cuba vốn hào hiệp, cả tin, nhiệt tâm và lương thiện.
Măngđana tham gia tổ chức bí mật nhằm lật đổ chế độ Batítsta. Anh cùng với mấy người bạn thân tín trong tổ chức hoạch định một kế hoạch xé toạc bức màn quốc sách lừa mỵ của bọn độc tài và nói trên phát thanh quốc gia vào giờ phát thanh ca nhạc, giờ mà không một người dân Cuba nào không ngồi bên máy thu thanh. Sau khi đã dự liệu tính toán kỹ lưỡng đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong kế hoạch đánh chiếm, Măngdana cùng với bạn anh biết chắc rằng chỉ chiếm nổi đài phát thanh trong vòng 3 phút, có nghĩa là 180 giây đồng hồ, sau đó bọn bảo vệ đài sẽ tiêu diệt anh…
Vậy là bài nói chuyện của anh sẽ phải chấm hết ở giây đồng hồ thứ 181. Anh đặt tên cho kế hoạch mạo hiểm này là “Ba phút sự thật”. Điều làm Măngdana lo lắng nhất không phải là việc đánh chiếm Đài phát thanh, cũng không phải là cái chết. Cái khó là anh phải nói được sự thật với nhân dân chỉ trong vòng ba phút! Kết quả, Măngđana cùng các bạn anh, với lòng dũng cảm siêu phàm và trí thông minh tuyệt vời của tuổi trẻ, đã thực hiện chiến công thần kỳ này một cách toàn vẹn đúng như kế hoạch đã định: Bài nói của anh chấm hết vào đúng vào lúc những loạt đạn tiểu liên bắn thẳng vào ngực, vào tim anh ở giây thứ 181.
Sau ngày Cách mạng Cuba thành công, Ăngtôniô Ếchxêvania được nhà nước Cuba truy tặng danh hiệu Anh hùng dân tộc. Chiến công của anh được nhà thơ Nga Xô viết Éptusenkô viết thành bản tráng ca nổi tiếng “Ba phút sự thật”.
Và như lời tựa, 15 câu chuyện trong cuốn sách đều là những lời tâm sự chân thành, những lời gan ruột của nhà văn chiến sĩ trọn đời trung thành với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời: Đi theo Vệ Quốc Đoàn chiến đấu vì Tổ quốc vì nhân dân. Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt 30 năm trời, từ sau vụ “Nhân văn giai phẩm”; dù phải đi lao động cải tạo từ Thái Nguyên, Việt Trì, Thanh Hóa, Thái Bình, không nhà cửa, lấy nhau có hai con rồi mà 20 năm ròng không có chỗ trú thân. Tên không được in trên sách, phải “cá trộm, rượu chịu, văn chui”. Thế mà ông không hề thù oán ai, vẫn cặm cụi viết và vẫn viết “dòng đầu thẳng ngay như dòng cuối”, luôn xưng tụng đất nước, xưng tụng nhân dân, xưng tụng cách mạng, xưng tụng tình yêu bằng những tác phẩm văn chương cuốn hút, bốc lửa và thiết tha, nhân bản.
III.
Huế là một mảnh đất lạ kỳ, không phải ngẫu nhiên mà vương triều nhà Nguyễn đã chọn nơi này làm Kinh đô. Ngoài Phùng đại nhân, mảnh đất này còn sản sinh ra biết bao những nghệ sỹ, nhà khoa học, nhà thơ, nhà chính trị mà có người đã lên tới bực “tứ trụ triều đình”. Huế cũng là nơi cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng sống và là niềm cảm hứng để ông sáng tác nhiều ca khúc để đời.
Mặc dù được coi là TP Festival, thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau mỗi kỳ lễ hội, Huế lại trở về một thị thành thật bình lặng, nhịp sống cứ đều đều trôi đi như nhịp trôi lười biếng của sông Hương.
Ấn tượng đầu đời của tôi với Huế là hồi lớp 2, bố mua cho cuốn truyện tranh “Em bé sông Hương”. Truyện mỏng thôi, kể về quá trình từ một em bé mồ côi sớm có lòng yêu nước, ghét giặc ngoại xâm và dần dần đến với cách mạng một cách rất tự nhiên – như hàng ngàn hàng vạn em bé sông Hương khác. Cốt truyện chỉ nhớ đến thế, nhưng mãi mãi không quên được câu văn: “Sông Hương trong xanh, đằm thắm, thủy chung như một tà áo đẹp…”
Lớn thêm chút nữa, đọc thơ Tố Hữu tôi lại gặp một dòng Hương giang khác:
Trên dòng Hương giang/ Em buông mái chèo/ Trời trong veo/ Nước trong veo… Trăng lên trăng đứng trăng tàn/ Đời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng/ Thuyền em rách nát/ Mà em chưa chồng…
Tháng 11-2009, khi cơn bão số 9 tàn phá các tỉnh từ Quảng Bình – Bình Định, Phú Yên, Kon Tum… tôi có mặt ở Huế. Hình ảnh khó quên nhất là trong khi kinh thành lụt lội thì phía ngoài kia, vẫn có người mò trai cào hến trên sông Hương.
Tháng 7-2010, trong đợt hạn hán lịch sử 27 năm mới có một lần ở miền Trung tôi lại có mặt tại Huế. Và lại vẫn là hình ảnh những chiếc lưng còng ngụp lặn dưới dòng “nước như ai nấu/chết cả cá cờ” khiến cho bát cơm hến cứ nghẹn mãi trong cổ – không hẳn là do thói quen ăn nhiều ớt!
Lần nào đến Huế, tôi cũng cố gắng được một lần ngồi xích lô đêm, để thêm một lần được hòa vào cầu Trường Tiền, sông Hương, chợ Đông Ba, Ngọ Môn, đường phượng bay… Và lần nào khi gần kết thúc chuyến đi, bác xích lô cũng không quên câu mời (mà có lẽ rất nhiều bạn ở đây cũng từng được nghe) : “Cậu có muốn “ôm Huệ vô lòng” hông”? Và lần nào câu trả lời của tôi cũng là nụ cười mỉm. Dĩ nhiên là có, nhưng không phải là một “thực thể sinh động” mà là toàn bộ cái nên thơ mộng mị, sự bình yên, và tình cảm dạt dào của người dân nơi đây – hy vọng sẽ không bao giờ mai một – như tấm lòng trinh bạch của cố nhà văn họ Phùng.



